SỐ LƯỢT TRUY CẬP

1
4
3
9
4
6
0
Xúc tiến Đầu tư Thứ Tư, 13/08/2014, 14:50

Tham luận của tỉnh Bạc Liêu tại hội nghị báo cáo viên theo vùng “Hội nhập quốc tế vì phát triển bền vững, vai trò của địa phương”

(Do Ông Trương Tấn Mười, Giám đốc Sở Ngọai vụ trình bày)

Với vấn đề đặt ra là “Thời cơ, thách thức của địa phương/doanh nghiệp đối với công tác hội nhập kinh tế quốc tế. Kiến nghị đối với trung ương, Bộ/ngành nói chung và Bộ Ngọai giao nói riêng để hỗ trợ địa phương/doanh nghiệp triển khai công tác hội nhập kinh tế quốc tế vì phát triển bền vững”. Phần trình bày trong nội dung tham luận này sẽ đi thẳng vào 2 vấn đề chính:

Một là, Thuận lợi và khó khăn của địa phương và doanh nghiệp Bạc Liêu trong công tác hội nhập kinh tế quốc tế.

Hai là, một số vấn đề đặt ra trong thực tế cần có sự quan tâm, hỗ trợ tích cực từ Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương.

Xin đi vào vấn đề thứ nhất,

Đối với địa phương, nếu nhìn từ góc độ khu vực đồng bằng sông Cửu Long thì Bạc Liêu là vùng đất gần cực nam, giáp các tỉnh Cà Mau, Kiên Giang, Hậu Giang và Sóc Trăng; với bờ biển dài 56 Km, được tách ra từ tỉnh Minh Hải năm 1997, với xuất phát điểm về kinh tế rất thấp. Do vậy, có thể nói là Bạc Liêu còn là tỉnh nghèo, lại xa các trung tâm kinh tế lớn như thành phố Cần Thơ (120 Km) và Thành phố Hồ Chí Minh (280 Km); chưa có những dự án tầm cở, mang tính động lực cho phát triển kinh tế (trong khi đó như tỉnh Cà Mau có dự án khí – điện – đạm; Sóc Trăng có khu kinh tế Định An; Hậu Giang có trung tâm nhiệt điện Sông Hậu, nhà máy đóng tàu, nhà máy giấy; Kiên Giang có nhà máy nhiệt điện; Cần thơ có khu công nghiệp Trà Nóc...). Chính từ những khó khăn nội tại này đã ãnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển đi lên của tỉnh thời gian qua, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như thời điểm hiện nay. Những khó khăn, hạn chế có thể hình dung như sau:

+ Việc khai thác tài nguyên thiên nhiên và triển khai các giải pháp hỗ trợ thị trường, tìm đầu ra cho các sản phẩm đặc trưng xuất khẩu vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Trong đó, có thể nói đến 2 mặt hàng chủ lực là thủy sản, chủ yếu là tôm nuôi (với sản lượng gần 100 ngàn tấn/năm) và lương thực (từ 250 đến 300 ngàn tấn lúa hàng hóa/năm, với kim ngạch xuất khẩu hàng trăm triệu USD/năm (cụ thể năm 2013 là 350 triệu USD), trong đó xuất khẩu tôm có số lượng và kim ngạch chi phối. Tuy nhiên, với số lượng gần 30 doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu; công suất thiết kế gần 60 ngàn tấn/năm, nhưng do nhiều nguyên nhân, nguồn nguyên liệu phục vụ cho chế biến tôm xuất khẩu chỉ đáp ứng 50% công suất của các nhà máy.

Về đầu ra cho sản phẩm, chủ yếu là từng doanh nghiệp tự thân vận động, tìm kiếm đối tác (kể cả hợp đồng chính ngạch và tiểu ngạch) và được xem như là bí mật về thị trường, đối tác của từng doanh nghiệp, đây là một hạn chế vốn có mà công tác định hướng và quản lý về mặt nhà nước của các cấp, các ngành trong tỉnh rất khó chi phối và điều chỉnh.  

Đối với doanh nghiệp, có thể xét trên 3 mặt tác động.

+ Một là bản thân doanh nghiệp, tỉnh Bạc Liêu có khỏang 1.500 doanh nghiệp, đa số trong đó là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thậm chí là siêu nhỏ; năng lực quản lý, kỷ năng kinh doanh, kiến thức về khoa học, công nghệ và hội nhập kinh tế quốc tế còn rất hạn chế. Bên cạnh đó, do năng lực quản trị thiên về kinh doanh truyền thống, gia đình nên khả năng hợp tác yếu, tính cạnh tranh của sản phẩm không cao; những cơ chế chính sách hỗ trợ của nhà nước đa phần chưa có nhiều tác động và chưa thật sự được doanh nghiệp xem như là một đòn bẩy tích cực phục vụ cho sự phát triển đi lên của từng doanh nghiệp (ví dụ như cơ chế tín dụng; chính sách đào tạo bồi dưỡng; chương trình xúc tiến thương mại và các chương trình hỗ trợ về mặt kỷ thuật, cải tiến công nghệ, về đăng ký thương hiệu hàng hóa, bản quyền sản phẩm…).

+ Hai là về tác động của các cơ quan quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, mà trước hết là công tác thông tin dự báo trên các lĩnh vực như quy họach; thị trường; giá cả; chính sách; pháp luật và hệ thống các loại thủ tục hành chính…chưa được thường xuyên, kịp thời và đồng bộ. Do đặc thù là loại hình sản xuất, kinh doanh và xuất nhập khẩu, doanh nghiệp rất ít thời gian tiếp cận với các cơ quan hành chính, nên những chủ trương, chính sách liên quan, doanh nghiệp chưa thật sự chủ động trong nắm bắt, có chăng là những vấn đề liên quan đến thuế, hải quan và những vấn đề khác liên quan đến lộ trình xuất nhập khẩu sản phẩm, hàng hóa của mình.

Công tác thu hút đầu tư gắn với xúc tiến thương mại cũng là một khâu quan trọng trong công tác quản lý của chính quyền các địa phương. Một thực tế cho thấy là hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước, nếu địa phương nào có thu hút đầu tư, nhất là thu hút các doanh nghiệp FDI nhiều thì số lượng và sức phát triển của doanh nghiệp địa phương đó càng tăng. Vì nếu bỏ qua những tác động không tích cực như tính áp đão về vốn, công nghệ và cạnh tranh không lành mạnh, thì sự gia tăng các doanh nghiệp có vốn 100% nước ngòai tại một địa phương sẽ tăng cường tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp; các doanh nghiệp địa phương sẽ học hỏi được cung cách quản lý hiện đại; có cơ hội liên kết, hợp tác ở một số khâu trong quy trình sản xuất, kinh doanh; nâng dần chất lượng sản phẩm của mình hoặc tham gia vào chuỗi giá trị của các sản phẩm hàng hóa trong liên kết kinh doanh.

Bên cạnh đó, chính việc thu hút đầu tư các doanh nghiệp FDI vào địa phương đã tạo cơ hội và điều kiện cho địa phương mở rộng cửa cho giao thương với thị trường các nước, từng bước thực hiện có hiệu quả chủ trương hội nhập quốc tế nói chung, trong đó có hội nhập kinh tế quốc tế.  

Ba là, tác động từ bên ngoài của các quốc gia, các thị trường là đối tác của doanh nghiệp trong tỉnh. Khó khăn trước hết của doanh nghiệp như nói phần trên, đó là việc tiếp cận thị trường để thâm nhập sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp mình. Đồng thời, một vấn đề khó hiện nay là đứng trước những chính sách bảo hộ mậu dịch, rồi các rào cản thương mại, kỷ thuật, điều kiện vệ sinh an tòan thực phẩm…đang đặt ra cho các doanh nghiệp địa phương những vấn đề nan giải mà tự thân doanh nghiệp không thể xử lý nổi. Ví dụ như muốn có được mặt hàng tôm nuôi xuất khẩu tất yếu phải qua nhiều công đoạn từ con giống đến quá trình nuôi, thu mua, chế biến và xuất khẩu, trong khi đó doanh nghiệp xuất khẩu tôm chỉ tham gia một số ít công đọan, không thể kiểm tra và cũng không thể bảo đảm chắc chắn về chất lượng sản phẩm xuất khẩu của mình.

Một tác động khác không kém phần khó khăn cho doanh nghiệp là sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảnh kinh tế thế giới, thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, nhiều lúc lượng tồn kho lớn, trong lúc nguồn vốn sản xuất không bảo đảm, lãi suất cho vay của ngân hàng dù đã điều chỉnh giảm nhưng thủ tục cho vay vẫn còn khá rắc rối, nhất là vốn vay trung, dài hạn. Một số doanh nghiệp xuất hàng theo đường tiểu ngạch, chủ yếu là thị trường Trung Quốc, thường bị găm làm chậm thời gian giao hàng, giá cả không ổn định và có lúc còn bị chiếm dụng vốn hoặc có trường hợp không thanh toán đúng theo hợp đồng đã ký kết…    

Xin đi vào phần thứ hai là, một số vấn đề đặt ra trong thực tế cần có sự quan tâm, hỗ trợ tích cực từ Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương.

Trước hết, xin đặt lại vấn đề liên kết vùng đối với khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Vấn đề này đã được đặt ra và thảo luận tại nhiều diễn đàn khu vực và tòan quốc, trong đó có vai trò tích cực của các Bộ, Ngành liên quan; của BCĐ Tây Nam Bộ và UBND các tỉnh, thành phố trong khu vực. Song để trở thành hiện thực và mang tính bền vững thì cần hơn nữa sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, sự đồng tình hỗ trợ tích cực từ các Bộ, Ngành Trung ương với một tầm nhìn chiến lược, một cơ chế đặc thù và những bước đi hợp lý trên cơ sở khoa học để đảm bảo tính bền vững cho sự phát triển của từng địa phương trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Vì nếu trong nông nghiệp, chúng ta đã thử nghiệm và khẳng định việc xây dựng cánh đồng mẫu lớn là cơ sở, điều kiện đáp ứng cho yêu cầu xuất khẩu luơng thực trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế thì đối với việc liên kết vùng, nên chăng khu vực đồng bằng sông Cửu Long có thể xây dựng như là một thực thể thống nhất trong đa dạng, trên cơ sở khai thác hợp lý tiềm năng thiên nhiên và thế mạnh của từng địa phương trong vùng.

Xin kiến nghị Bộ Ngoại giao; Bộ Công Thương và các Bộ, Ngành liên quan hỗ trợ nhiều hơn nữa cho các địa phương tổ chức có hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư; xúc tiến thương mại và du lịch. Vì hiện nay, thực hiện Quyết định số 72/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế xây dựng, quản lý và thực hiện Chương trình xúc tiến thương mại Quốc gia và Quyết định số 03/2014/QĐ-TTg ban hành Quy chế quản lý nhà nước đối với họat động xúc tiến đầu tư, theo đó, hàng năm các tỉnh, thành phố xây dựng và phê duyệt các Chương trình xúc tiến thương mại; xúc tiến đầu tư, đồng thời gửi các Bộ, Ngành chức năng liên quan tổng hợp, xác lập danh mục chung để phổ biến, thu hút và theo dõi đối với các hoạt động này.

Đối với Bộ Ngoại giao, thông qua hoạt động của các cơ quan đại diện ngoại giao của ta ở nước ngoài, trong đó có vai trò của các Tham tán thương mại, thời gian qua đã hỗ trợ tích cực cho công tác xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư thông qua việc bố trí tiếp xúc với các đối tác nước sở tại của các đoàn cán bộ, doanh nghiệp địa phương. Đồng thời, hàng năm các Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch & Đầu tư đều có tổ chức các hội nghị, hội thảo, các kỳ trao đổi chuyên đề và hầu hết trong số họat động này đều có sự tham gia của các Đại sứ, Tổng lãnh sự, Tham tán thương mại của Việt Nam tại các Quốc gia và vùng lãnh thổ, đại diện cho các Châu lục. Điều này, nói lên sự quan tâm và xác định trách nhiệm của Bộ Ngoại giao trong thực hiện đường lối đối ngoại và chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta. Nên chăng, trong thời gian tới, Bộ Ngoại giao cần hỗ trợ các địa phương, nhất là đối với doanh nhiệp xuất khẩu của tỉnh kết nối thường xuyên hơn với bộ phận phụ trách thị trường của cơ quan ngoại giao để đảm bảo thông tin chính xác, tránh được những rũi ro trong các thương vụ của mình.

Đối với Bộ Công thương, doanh nghiệp các địa phương cần lắm những thông tin về việc thực hiện theo lộ trình Việt Nam gia nhập các tổ chức, hiệp định với ASEAN và Quốc tế. Những băn khoăn và lo ngại của doanh nghiệp khi cảm thấy mình còn yếu về năng lực; trình độ quản lý; kiến thức về kinh doanh, thị trường mở đang tạo áp lực lớn cho doanh nghiệp. Cảm nghỉ rằng, doanh nghiệp của địa phương hiện tại như đang bơi trong dòng sông nhỏ, nay phải bươn chảy ra biển lớn với nhiều luật chơi hiện đại thì cần lắm những trang bị về kiến thức và sự định hướng, dìu dắt của cơ quan chính là Bộ Công thương.

Những vấn đề đặt ra nêu trên, xuất phát từ thực tế khó khăn của địa phương, doanh nghiệp và những kỳ vọng đệ đạt đến Chính Phủ và các Bộ ngành Trung ương. Rất mong là sau hội nghị này, cùng với những phản ảnh, kiến nghị của các tỉnh, thành khu vực đồng bằng sông Cửu Long, những vấn đề của Bạc Liêu đặt ra sẽ được quan tâm và lý giải thỏa đáng./.    

 


Số lượt người xem: 1913 Bản inQuay lại

TIN MỚI HƠN

TIN ĐÃ ĐƯA

Xem tiếp
Xem theo ngày Xem theo ngày

 Lỗi

Lỗi Web Part: A Web Part or Web Form Control on this Page cannot be displayed or imported. The type could not be found or it is not registered as safe.